Home » Sáng kiến kinh nghiệm khác » Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục – Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh

Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục – Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh


Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục – Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh

Sáng kiến kinh nghiệm 4d4029e1 03a3c245 img 0031 resize Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục   Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh


Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh Sáng kiến kinh nghiệm pdf button Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục   Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh Sáng kiến kinh nghiệm printButton Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục   Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh Sáng kiến kinh nghiệm emailButton Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục   Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh

LỜI CẢM ƠN

Có được bản sáng kiến kinh nghiệm này trước hết là lòng yêu nghề, tinh thần tận tâm, tận lực, bám trường, bám lớp của bản thân. Bên cạnh đó, là sự giúp đỡ của đồng nghiệp trong tổ khối, Hội đồng khoa học trường Tiểu học Thiện Hưng A – Bù Đốp – Bình Phước. Sự cổ vũ động viên việc viết áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trong dạy học của phòng GD-ĐT Bù Đốp.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót. Kính mong sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, Hội đồng khoa học các cấp để đề tài “Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh” đạt hiệu quả cao.

Bản thân tôi xin chân thành cảm ơn!

Thiện Hưng, ngày 20 tháng 01 năm 2011


I . ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

a-Lý do về mặt lý luận

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình và Xã hội dành cho trẻ những điều kiện sống tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, tình cảm và đạo đức của trẻ. Vâng, trẻ em ngày nay đã được tiến lên một vị trí mới trong xã hội, các em được hưởng những điều kiện ưu tiên để sống và phát triển nên người.

Chúng ta thấy rằng, thai nhi trong bụng mẹ tự phát triển thành em bé. Bé tự cất tiếng khóc chào đời, tập bú, tập ăn, tập lẫy, tập bò, ê a tập nói… Bé tự học, tự phát triển trong vòng tay thương yêu của cha mẹ. Lớn hơn một chút, bé tự học, tự rèn nào là múa, vẽ, hát ca, làm tóan, làm văn..…dưới sự hướng dẫn của cô thầy. Như vậy, tự học, tự rèn, tự phát triển là điều kiện cốt lõi giúp phát triển bản thân trẻ.

Trong xu thế hiện nay, phương pháp giáo dục tập trung vào vai trò người giáo viên sang phương pháp tập trung vào vai trò của học sinh. Từ hình thức dạy học đồng loạt sang hình thức dạy học bằng việc tổ chức các hoạt động nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh. Phương pháp dạy học mới nhằm phát huy khả năng và kiến thức của học sinh ở mức cao nhất, ở đó các em không bị “áp đặt” phải nghe và tiếp nhận kiến thức một cách thụ động mà các em được chủ động tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn và giải thích của giáo viên. Giáo viên phải tạo được hình thức khơi dậy ở các em lòng ham hiểu biết, tìm tòi học hỏi, tạo cho học sinh một động cơ học tập, có nhu cầu học tập để tiếp thu những kiến thức mới. Khi có hứng thú học tập thì các em tham gia hoạt động sôi nổi, hào hứng và tích cực. Hứng thú với học tập là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết giúp cho việc học tập của học sinh mang lại hiệu quả cao, tránh được sự căng thẳng và nhàm chán.

b-Lý do về mặt thực tiễn

Qua những năm giảng dạy thực tế, qua trao đổi với đồng nghiệp bản thân rút ra được một số kinh nghiệm để tăng cường sự hứng thú trong học tập cho HS, giúp các em chủ động tham gia tích cực các hoạt động học tập:

1/ Thực hiện việc đổi mới trong phương pháp giảng dạy: Giáo viên phải chủ động thực hiện đổi mới cách giảng dạy, cách học của học sinh, đổi mới cách đánh giá học sinh theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Giáo dục – Đào tạo từ đó sẽ có tác dụng tốt trong việc đưa học sinh từ vai trò thụ động sang vai trò chủ động trong việc tiếp thu kiến thức bài giảng.

2/ Trong mỗi tiết học giáo viên cần quan tâm đến từng đối tượng HS tùy theo trình độ HS, giáo viên sẽ giao những nhiệm vụ học tập vừa với sức học, tránh những yêu cầu quá dễ hoặc quá khó cho HS.

3/ Dạy học theo nhóm, trình độ: Một phương pháp giúp cho tất cả các HS cùng tiến bộ:

Trong giảng dạy, người giáo viên luôn chú ý, quan tâm tích cực đến việc rèn cho lớp nếp tự quản, tinh thần tập thể để các em có tính tự giác, tích cực trong học tập và sinh hoạt thì kết quả giáo dục sẽ tốt hơn.

Từ những suy nghĩ, trăn trở như trên bản thân tôi đã mạnh dạn nảy sinh viết sáng kiến kinh nghiệm: “ Rèn luyện nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh”.

2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp giảng dạy “Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh”.

- Những biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy.

b. Khách thể nghiên cứu:

Giáo viên, học sinh Khối Hai và phụ huynh học sinh.

3. Phạm vi nghiên cứu:

Giáo viên, học sinh Khối Hai, Trường Tiểu học Thiện Hưng A.

4. Mục đích nghiên cứu:

- Ở độ tuổi lên 7, các em đã có được hai năm được làm quen với tổ chức Đội Sao. Tuy còn bỡ ngỡ nhưng các em cũng đã thấy được những hoạt động của sao đòi hỏi tính tự giác, tinh thần tập thể cao.

Vì vậy rèn cho các em tính tự quản, tinh thần tập thể sẽ giúp cho các em có tính chủ động, sáng tạo, mạnh dạn hơn trong học tập và tham gia các hoạt động một cách tích cực hơn.

- Thông qua tập thể lớp kết hợp với các hoạt động của Sao, dưới sự hướng dẫn của giáo viên giáo dục tinh thần tập thể còn có tác dụng hình thành nhân cách cho học sinh. Giúp các em biết học tập và noi gương những hành vi tốt, những cử chỉ cao đẹp của các bạn trong lớp mình.

5.Kế hoạch nghiên cứu:

- Tháng  9/2010:   Đăng kí đề tài.

- Tháng 10/2010:  Xây dựng đề cương; mẫu công cụ nghiên cứu.

- Tháng 11/2010:  Tài liệu xây dựng cơ sở lý luận đề tài;

Khảo sát thực trạng đề tài.

- Tháng 12/2010:   Phân tích, xử lí số liệu ( Học kì 1). Viết và hoàn thành đề tài.

Nộp đề tài.

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1.Nghiên cứu thực trạng

- Trong lớp đầu năm có 32HS/13: 27/9 HS thực hiện đầy đủ, 5/4 HS chưa thực hiện đầy đủ, 2/2 HS khuyết tật.

- Trước tình hình lớp có nhiều khó khăn:

+ Học sinh trong lớp còn hay chửi thề, nói tục, đánh nhau…

+ Một số học sinh có hoàn cảnh khó khăn: Nhà nghèo, ở với ông bà do cha mẹ mất sớm nên ảnh hưởng đến việc học hành của các em…

+ Còn phần lớn các em trong lớp có bố mẹ xuất thân từ thành phần buôn bán nhỏ, trình độ văn hoá thấp không có khả năng kèm cặp con cái ở nhà.

+ Chưa tự giác trong học tập, còn nói chuyện riêng nhiều, hay quên sách vở, bỏ bài không chịu làm…

+ Trong lớp học chưa tự quản lớp tốt, còn ồn dẫn tới chất lượng học tập không cao.

+ Chưa trau dồi kiến thức, chưa nêu cao trách nhiệm học tập, phẩm chất đạo đức của các em; chưa gương mẫu, yêu thương đối xữ công bằng; đoàn kết với các bạn trong lớp, trong tập thể chưa cao.

+ Một số em khuyết tật hạn chế giờ thể dục nên sức khỏe còn yếu.

+ Công tác phối hợp với Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh chưa cao, chưa chặt chẽ.

+ Tinh thần đoàn kết, giúp bạn bè khuyết tật và có hoàn cảnh khó khăn chưa có.

+ Góp phần bảo vệ và phát huy truyền thống của lớp, của trường; an toàn giao thông chưa mạnh dạn.

Bản thân nhận thấy các em rất thiếu thốn, thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần. Chính vì vậy chỉ có tập thể lớp mới có thể lôi cuốn hấp dẫn và cuốn hút các em vào những công việc chung của lớp, của Đội, Sao. Các em được sống trong tình gắn bó, yêu thương của bạn bè, nên xây dựng được tập thể lớp tốt vừa giúp các em rèn luyện đạo đức mà còn là chỗ dựa tinh thần cho những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt. Do đó tập thể lớp là sân chơi hấp dẫn nhất của các em.

2. Các giải pháp:

Trong những năm qua tình hình thực hiện công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường của chúng tôi rất tốt. Có chăng là những hành vi nghịch ngợm của trẻ thơ mà ở bất cứ nhà trường tiểu học nào cũng có thể xảy ra như: Trèo cây, leo bàn học, đánh nhau, trêu chọc bạn, vẽ bậy lên tường …Tuy nhiên tính tự quản ở một số lớp đặc biệt là khối 1, khối 2 chưa cao; hiện tượng nói chuyện trong giờ học, chưa biết tự giác chào khách, chưa tự giác trong học tập vẫn còn xảy ra. Chính những hiện tượng đó, bản thân luôn chú ý và tìm ra một số biện pháp khắc phục cụ thể như sau:

2.1/ Giáo viên tiến hành phân nhóm đối tượng học sinh:

Giáo viên cần thực hiện thường xuyên công tác phân loại học sinh, đặc biệt vào đầu năm học giáo viên khảo sát chất lượng của học sinh 2 môn Toán, Tiếng Việt. Tuy nhiên, đầu năm chưa chắc đã thực hiện được khách quan tính chính xác trình độ của từng em, vì vậy trong năm học giáo viên vừa dạy vừa theo dõi cũng như tham khảo giáo viên lớp dưới để đưa ra kết luận chính xác và khoanh nhóm đối tượng để đề ra phương pháp dạy học thích hợp cho từng nhóm đã phân loại.

Ví dụ : Trong môn Tiếng Việt

* Phân nhóm đối tượng:

Nhóm học sinh đọc thông, viết thạo (học sinh giỏi, khá)

Nhóm học sinh không đọc được

Nhóm học sinh vừa đọc vừa đánh vần

Nhóm học sinh viết còn yếu (sai chính tả nhiều)

- Đối với nhóm học sinh không đọc được:

Trong giờ tập đọc giáo viên phải giúp học sinh mở SGK tìm bài đọc. Khi giáo viên hoặc bạn đọc các em phải chú ý lắng nghe, nhìn dò theo từng mặt chữ (đếm theo). Đây là một phương pháp theo hình thức ghi nhớ máy móc nhưng bắt buộc các em phải thực hiện. Thỉnh thoảng giáo viên hỏi các em bạn mình đã đọc đến chữ gì (nghe-nhắc lại) các em phải chỉ đúng và đọc lại. Tuy chỉ là học vẹt nhưng cũng tạo nên nề nếp học tập và phần nào giúp các em khi có điều kiện được giáo viên hoặc cha mẹ hướng dẫn thêm sẽ tiếp thu dễ dàng.

- Đối với nhóm học sinh vừa đọc vừa đánh vần:

Nhóm này tuy có phần hơn nhóm không đọc được nhưng vẫn là gánh nặng cho giáo viên, khi lên lớp giáo viên phải yêu cầu các em phải dò theo khi giáo viên hoặc bạn đang đọc. Ngồi ra phải khuyến khích các em đọc câu, đoạn ngắn. Giáo viên phải theo dõi, gợi ý, hướng dẫn học sinh cách đánh vần. Ví dụ : đ – uôi – đuôi: Đánh vần trong phần đầu vần trước, các tiếng còn lại tương tự như vậy sẽ nhanh hơn. Để cùng một lúc hướng dẫn, giúp đỡ được nhiều em. Song song đó giáo viên sắp xếp các em giỏi, khá ngồi gần các em này để các em có thể hướng dẫn bạn đọc được dễ dàng hơn.

- Đối với nhóm học sinh viết còn yếu (đọc được nhưng viết còn sai chính tả)

Giáo viên cần tranh thủ sự giáo dục của gia đình bằng cách hướng dẫn đọc cho các em nghe – viết các vần, từ, câu vào vở và xem trước bài viết ở nhà, đọc và gạch chân những từ các em cảm thấy khó viết, dễ sai và luyện viết trước vào vở nháp. Khi lên lớp giáo viên sẽ lưu ý cho các em một số từ khó khác, hướng dẫn, phân tích âm, vần, phân biệt nghĩa của từ. Trước khi viết vào vở, giáo viên đọc cho học sinh viết vào bảng con trước. Nếu từ nào HS không biết thì giáo viên đánh vần để học sinh nghe, viết. Viết xong giáo viên chấm điểm, chữa lỗi cho học sinh.

- Đối với nhóm học sinh đọc thông viết thạo:

Giáo viên chủ yếu hướng dẫn, tổ chức cho các em tự học. Nếu các em đã đọc tốt rồi thì khuyến khích các em đọc diễn cảm hơn. Qua đọc, các em tự rút ra ý nghĩa của từng câu, đoạn, bài. Các em là những học sinh đắc lực giúp giáo viên rèn các em yếu kém. Những học sinh viết chữ đúng, đẹp, đúng chính tả khi giáo viên cho các em làm thư kí nhóm, viết mẫu trên bảng con, bảng lớp cho cả lớp xem. Ngồi giờ học, có điều kiện thì giáo viên cho các em trang trí lớp, viết bài mẫu. Đó cũng là phương pháp giúp các em tự thể hiện những mặt tích cực của bản thân.

- Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà: Mặc dù không giảng dạy tất cả các môn cho các em (dạy chuyên sâu) nhưng bản thân vẫn theo sát bài học ở lớp của các em để hướng dẫn học sinh tự học ở nhà. Việc chuẩn bị tốt bài ở nhà sẽ làm cho trẻ hứng thú, năng động, tự tin và tích cực trong các tiết học ở lớp.

- Học bài cũ: Bản thân thường chỉ rõ cho học sinh kiến thức cơ bản thông qua các hoạt động giảng dạy, thảo luận nhóm rút ra nội dung cần nhớ, về nhà trao đổi ý kiến với mọi người về một vấn đề đang thắc mắc để các em dễ dàng ghi nhớ có suy nghĩ, tránh học vẹt, học mà chẳng hiểu gì.

Chính vì thế mà phải cùng nhau kết hợp xử lý thì các em mới trở thành người con ngoan trò giỏi được.

2.2/ Giáo viên cần thường xuyên cải tiến nội dung và các hình thức tổ chức dạy học trong mỗi tiết học như:

- Phối hợp các hình thức dạy học theo lớp, theo nhóm hay hoạt động cá nhân một cách phù hợp có hiệu quả. Tạo nhiều hình thức thi đua trong học tập.

- Tổ chức các trò chơi học tập, cải tiến các bài tập trong SGK thành trò chơi, câu đố hay giải ô chữ để thu hút sự chú ý ở học sinh,… để các em được học mà chơi, chơi mà học.

Ví dụ : Trò chơi ” Tìm bạn cho tôi”: Mỗi đội có 20 tấm thẻ bằng bìa, trên đó ghi những phép tính toán học. Trong đó có các phép tính có giá trị bằng nhau. Cách chơi: Chia lớp thành các đội, mỗi đội từ 4-6 em. Trong khoảng thời gian là 5 phút các đội phải tìm được các cặp đôi phép tính có kết quả bằng nhau. Đội nhanh nhất, đúng nhất là đội chiến thắng.

Giáo viên thay hình thức tính nhẩm trong các dạng toán +, -, x, : thành trò chơi thi đua tiếp sức giữa các tổ, hay trò chơi, “câu cá”

- Thay hỏi đáp tìm từ ngữ trong một chủ đề: Tìm từ có tiếng “học” giáo viên cho chơi trò chơi ” Tổ ong “; chú ong mang tiếng học, … học sinh cầm thẻ tổ ong viết từ tìm được gắn xung quanh chú ong, … thay cho hỏi đáp, ít học sinh được tham gia, động não.

2.3/Sử dụng phối hợp bài tập trắc nghiệm giúp tiết học thêm phong phú, sinh động.

Ví dụ: Thay vì cứ lặp đi lặp lại việc giải toán có lời văn, thỉnh thoảng giáo viên thay đổi hình thức trắc nghiệm: Một bình hoa có 3 bông hoa. Vậy 5 bình có tất cả số bông hoa là :

a. 8 bông hoa                 b. 12 bông hoa                  c. 15 bông hoa

HS sẽ chọn chữ cái đặt trước kết quả đúng nhất

2.4/ Giáo viên có thể sử dụng phương tiện dạy học “Ứng dụng công nghệ thông tin”, thiết kế giáo án điện tử để nâng cao hiệu quả giảng dạy, học sinh tiếp thu bài tốt.

Ví dụ : Môn TNXH, luyện từ và câu…giáo viên sử dụng những đoạn phim hình ảnh thật, tiếng động, âm nhạc…để minh hoạ các nội dung có liên quan trong bài mà học sinh khó được quan sát một cách thực tế, các em sẽ rất hứng thú và ghi nhớ bài lâu hơn.

2.5/ Môi trường học tập cũng là một yếu tố quan trọng giúp phát huy tính tích cực của học sinh, cụ thể trong lớp học.

Bốn bức tường đơn điệu của lớp học được giáo viên và học sinh tận dụng để hổ trợ cho việc học:

Ví dụ: Trưng bày “ Sản phẩm của em”: Các sản phẩm đẹp do các em làm ra sau khi học thủ công, mĩ thuật, … được trang trí trên tường để học sinh trong lớp cùng xem, học tập lẫn nhau, kích thích học sinh phấn đấu hoàn thiện làm đẹp sản phẩm của mình để được biểu dương trước lớp. Hay là:

+ Góc văn thơ: Tôi chọn những học sinh viết chữ đẹp viết một số bài thơ, đoạn văn hay đã học trong tuần hoặc các bài sưu tầm trên báo,… dán lên, để tất cả học sinh cùng đọc nhằm kích thích sự yêu mến văn thơ, yêu thích viết chữ đẹp cho các em.

+ Góc toán học: Là nơi trưng bày những bài giải Toán, những bài tìm thành phần chưa biết, các bảng cộng trừ… với các nội dung theo chương trình đang học để khi vui chơi, lúc rảnh rỗi các em nhìn vào, lâu dần sẽ khắc sâu vào trí nhớ.

+ Góc TNXH: Là một tập tranh vẽ các loài thú, loài chim… giúp các em biết thêm về các con vật, giúp các em miêu tả khi làm TLV hay vẽ về con vật trong môn Mỹ thuật, xé dán con vật trong môn Thủ công.

+ Góc thi đua: Nơi gắn cờ biểu dương tổ chăm  ngoan, giữ vệ sinh tốt, tích cực phát biểu…. giúp học sinh phấn khởi học tập tốt, chấp hành tốt nội qui nhà trường, lớp học.

+ Cạnh đó còn có góc biểu dương bạn học tốt, chăm ngoan: Nơi này ghi tên những học sinh giỏi, chăm ngoan để làm gương và là niềm vui cho các em. Đồng thời để khuyến khích học sinh khác phấn đấu noi theo.

+ Học sinh đóng góp truyện, sách báo… để xây dựng thư viện mini cho lớp để trau dồi kỹ năng đọc, giúp học sinh thư giãn.

Để lớp học luôn phong phú cần thường xuyên thay đổi nội dung cho phù hợp với chủ điểm học sinh đang học, khuyến khích các em làm các sản phẩm sáng tạo hơn để trang trí cho các bạn cùng học tập. Thật sự học sinh rất hứng thú, phấn đấu hồn thiện để sản phẩm của mình được dán lên lớp.

2.6/ Khuyến khích học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa, học tập ngoài  trời

Khuyến khích học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa, học tập ngoài trời sẽ giúp học sinh có điều kiện tiếp xúc môi trường xung quanh, có cơ hội để giao lưu, học hỏi lẫn nhau. Qua đó rèn luyện tính nhanh nhẹn, sự tự tin, bản lĩnh. Đây là phẩm chất rất cần thiết của con người trong thời đại mới.

2.7/Giáo viên cần quan tâm đến đối tượng học sinh, phát huy khả năng, sở trường của các em. Giáo viên cần có sự đối xử công bằng và bình đẳng, khen chê hợp lý mang tính giáo dục cao, tránh hình thức xử phạt học sinh.

Mỗi học sinh đều có những đặc điểm tâm sinh lý khác nhau, khả năng tiếp thu kiến thức cũng khác nhau. Chính vì vậy, giáo viên cần quan tâm đến các em để từ đó có những biện pháp, cách thức khác nhau trong giảng dạy nhằm giúp các em đạt được kết quả tốt hơn trong học tập. Mặt khác sự đối xử công bằng và bình đẵng của giáo viên đối với học sinh cũng rất quan trọng, bởi vì qua đó học sinh sẽ tin tưởng vào sự đánh giá, nhận xét của giáo viên và xem giáo viên là người chuẩn mực đáng tin cậy. Bên cạnh đó, học sinh tiểu học là lứa tuổi chưa có sự phát triển rõ rệt về tâm sinh lý cho nên tránh sự mắng nhiếc, xử phạt nặng làm ảnh hưởng đến tâm lý của các em.

2.8/ Giáo dục đạo đức “Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh” qua hoạt động Đội TNTP HCM trong nhà trường :

Hiện nay phong trào Đội, Sao trong nhà trường có vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh. Đồng thời cũng chính ở môi trường này tạo cho các em vững vàng hơn, tự tin, mạnh dạn hơn trong cuộc sống .

+ Sơ kết các hoạt động trong tuần của học sinh: Nề nếp đi học đúng giờ, chuyên cần nghỉ có giấy phép của cha mẹ đến giáo viên chủ nhiệm và BGH nhà trường, thực hiện công tác trực nhật vệ sinh trường lớp, công tác thi đua lớp, xử lý các hành vi đạo đức vi phạm của các em tuỳ theo mức độ mà có biện pháp xử lý cho phù hợp (tránh thái quá làm mất danh dự thì không nên trừ trường hợp vi phạm nặng). Phải nói rằng học sinh rất sợ khi được mời lên dưới cờ khiển trách, tâm lý các em cũng biết xấu hổ khi bị phê bình. Từ đó hình thức sinh hoạt dưới cờ hàng tuần được duy trì rất tốt. Ngoài những nội dung trên hàng tuần đ/c phụ trách Đội có những nội dung nêu gương người tốt việc tốt, biểu dương các thành tích của các em đạt được trong học tập cũng như trong phong trào, rồi tuyên truyền chủ điểm các ngày lễ lớn, các hội thi, các cuộc vận động …cũng đạt hiệu quả cao.

+ Phát động mô hình vườn hoa học tốt trong các lớp, tạo cho học sinh cùng nhau thi đua gặt hái kết quả nhiều hơn, hành vi xấu cũng giảm đi nhiều hơn.

+ Mô hình phát thanh măng non cũng được duy trì và có nội dung gắn bó với các gương, các mẫu hành vi tốt để tuyên truyền đồng thời cũng lấy gương xấu để các em biết phân biệt và ứng xử tốt hơn.

2.9/ Phát động phong trào kể chuyện theo sách Đạo Đức ở cơ sở

- Nhằm để khắc sâu những chuẩn mực hành vi đạo đức, góp phần hình thành ở học sinh ý thức đạo đức từ đó định hướng cho các em thực hiện và bước đầu thực hiện một số hành vi đạo đức. Loại hình này rất sinh động hấp dẫn học sinh tham gia phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em gây cho các em có những xúc cảm đạo đức mạnh mẽ và giúp cho học sinh hình thành được những biểu tượng về hành vi đạo đức.

- Giáo dục: Không nói dối, phải sống trung thực để rồi không phải hối hận và day dứt, kết quả của hành vi ấy là cuối cùng phải chuyển trường để  các bạn không trêu ghẹo.

Giáo dục: Lòng nhân ái của con người, có trái tim không thờ ơ trước những cảnh đời xót xa …Đó là lời của người Thầy đầu tiên của tôi đóchính là Mẹ của tôi …..

+ Giới thiệu truyện cho các bạn nhỏ tham khảo hàng ngày trên Thư viện để các em tìm đọc, tham khảo.

+ Cho học sinh của lớp tham gia kể chuyện đạo đức cấp trường, qua hội thi này giúp các em được nghe nhiều mẫu chuyện có tính giáo dục đạo đức rất cao và biết phân biệt, biết nhận xét, biết hành vi xấu, hành vi tốt, để các em bổ sung và tự điều chỉnh hành vi của bản thân ngay .

2.10/ Kết hợp: Gia đình – Nhà trường – Xã hội

- Sự giáo dục “Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh” có thành công hay không cũng phải dựa vào mối quan hệ mật thiết này. Sự phối hợp tương đồng của Nhà trường – Gia đình – Xã hội sẽ tạo cho chúng ta có một giải pháp tốt hơn để rèn luyện giáo dục các em. Nó góp phần hình thành ở học sinh những hành vi và thói quen đạo đức rất quan trọng của nhân cách người công dân, người lao động có khả năng hòa nhập tích cực vào cuộc sống của cộng đồng xã hội.

- Kết hợp với gia đình: Thông qua các buổi họp phụ huynh học sinh, yêu cầu bố trí giờ tự học cho  học sinh tiểu học ở nhà, góc học tập của trẻ cần cách biệt với không gian sinh hoạt ồn ào của gia đình. Các ngày nghỉ như chủ nhật, ngày lễ không buộc trẻ phải tự học, kết hợp cho trẻ vui chơi.

2.11/ Định hướng cho học sinh tự học theo phong cách: Học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi người, học bằng mọi cách và học qua mọi nội dung.

Học mọi nơi: Lê- nin đã từng nói: “Học, học, học nữa, học mãi”; học là học kiến thức, học cách suy nghĩ tìm ra kiến thức, học ở nhà, ở lớp, ở câu lạc bộ, ở thư viện, ở nơi nghỉ hè…

Học mọi lúc: Nếu học sinh đã biết học “mọi nơi” thì các em cũng sẽ biết học mọi lúc, tận dụng lúc rảnh rỗi: Học vào lúc đi du lịch, học trên đường đi chơi, học khi đang hóng mát…Buổi sáng khi đi tập thể dục, các em có thể quan sát vị trí mọc của mặt trời ở chân trời phía Đông từ đó tập xác định các hướng Tây- Nam- Bắc, các em cũng có thể liên hệ đến sự chuyển động của mặt trời trong một ngày. Khi nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa, lúc các em ngồi trên xe đi đến nơi tham quan, giáo viên cũng có thể giúp các em học cách tính vận tốc của xe bằng cách dựa vào các  cột cây số trên đường và chiếc đồng hồ; các em thực hiện một trò chơi thú vị  là đếm các cột cây số  và so với đồng hồ để rồi các em phát hiện ra rằng cứ một kilômet xe chạy mất 1phút 30giây, vậy vận tốc của xe là 40km/giờ. Hoặc lúc ăn xong một viên kẹo sữa, các em cũng có thể ôn lại từ vựng “milk candy” được viết bằng tiếng Anh trên tờ giấy gói viên kẹo…..

Học mọi người: Học người thật, việc thật, người tốt, việc tốt, người xưa trong lịch sử, nhân vật trong truyện… Khi đọc truyện “Vua máy tính Bin Ghết” ( truyện đọc lớp 4), yêu thích và khâm phục vua máy  tính Bin Ghết ­- nhà phát minh, nhà kinh doanh, một trong những người giàu có nhất hành tinh, học sinh học được ở nhân vật Bin Ghết tinh thần say mê học tập, làm việc; đam mê đọc sách từ khi còn rất bé; ý chí quyết tâm cao…

Học bằng mọi cách: Giáo viên cần giúp cho học sinh thoát khỏi lối học thụ động, đơn giản là đến lớp nghe giảng, về nhà làm bài, học thuộc bài…Kiên trì giúp học sinh có thói quen tự đọc sách báo, hứng thú tra từ điển, học qua radio, qua tivi, qua các phương tiện nghe nhìn, qua các trang web, qua các câu hỏi thông minh….. Phải bằng mọi cách tự mình tìm ra kiến thức, khám phá cái mới, cái chưa biết bằng hành động và suy nghĩ của chính mình.

Tóm lại: Học sinh cần rèn luyện cho bản thân tinh thần tự học, kĩ năng tự học. Các em không chỉ thực hiện việc tự học ở cấp Tiểu học hay Trung học mà việc tự học cần phải được rèn luyện suốt đời, rèn luyện đến mức nhuần nhuyễn thì mới có thể cập nhật được tri thức và “nên người” ở thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay.

III. KẾT LUẬN

1. Kết quả đạt được

BẢNG THỐNG KÊ TÌNH HÌNH HẠNH KIỂM HỌC SINH

Năm học 2008 – 2009

Lớp TSHS/Nữ THĐĐ Tỉ lệ % CTHĐĐ Tỉ lệ %
2A1 32/13 30/11 93,8 2/2 6.2
2A2 31/12 30/11 96.8 1/1 3.2
2A3 32/13 30/11 93.8 2/2 6.2
Cộng 95/38 90/33 94.7 5/5 5.3

Năm học 2009– 2010

Lớp TSHS/Nữ THĐĐ Tỉ lệ % CTHĐĐ Tỉ lệ %
2A1 32/13 31/12 96.9 1/0 3.1
2A2 31/12 30/11 96.8 1/1 3.2
2A3 32/13 31/12 96.9 1/1 3.1
Cộng 95/38 92/35 96.8 3/5 3.2

Giữa học kì I: 2010– 2011.

Lớp TSHS/Nữ THĐĐ Tỉ lệ % CTHĐĐ Tỉ lệ %
2A1 32/13 32/13 100 0 0
2A2 31/12 31/12 100 0 0
2A3 32/13 32/13 100 0 0
Cộng 95/38 90/33 100 0 0

2/ Bài học kinh nghiệm

Động cơ học tập là yếu tố quan trọng, thúc đẩy, kích thích người học chủ động học tập. Vì vậy yếu tố chính chi phối, thúc đầy người học tích cực, chủ động học tập là mục đích của việc học tập. Do đó, giáo viên tạo động cơ học tập cho HS là một việc làm vô cùng có ý nghĩa, cần được quan tâm đúng mức và thường xuyên. Trên đây là một số biện pháp tôi đã làm trong thời gian qua và thấy có hiệu quả trong việc giúp HS học tập tích cực, phấn khởi. Tôi rất mong nhận được sự ủng hộ đóng góp ý kiến để đề tài này ngày càng hoàn thiện. Tôi mong muốn sẽ được đồng nghiệp đóng góp thêm những kỹ thuật mới. Điều tôi mong muốn nhất là những kỹ thuật này phù hợp với thực tế giảng dạy ở các nhà trường và sẽ trở thành công việc quen thuộc của mỗi giáo viên.

Liveshow hot trên truyền hình:
Sáng kiến kinh nghiệm hot Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục   Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinhLich phat song giong hat viet nhi  - Sáng kiến kinh nghiệm hot Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục   Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh  Lịch cắt điện hà nội tháng 5 - Sáng kiến kinh nghiệm hot Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục   Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinhThời tiết hà nội 3 ngày tới

Gửi nhận xét của bạn về bài viết Sáng kiến kinh nghiệm giáo dục – Rèn nếp tự quản, tinh thần tự học cho học sinh

Bạn phải đăng nhập để gửi nhận xét.

tra cuu diem thi
Doc truyen 50 sac thai xam - den - tu do