Home » Sáng kiến kinh nghiệm khác » Sáng kiến kinh nghiệm kinh nghiệm lồng ghép kiến thức luyện từ và câu

Sáng kiến kinh nghiệm kinh nghiệm lồng ghép kiến thức luyện từ và câu


Sáng kiến kinh nghiệm kinh nghiệm lồng ghép kiến thức luyện từ và câu

Sáng kiến kinh nghiệm BYEE 2 06225 Sáng kiến kinh nghiệm kinh nghiệm lồng ghép kiến thức luyện từ và câu

Tên đề tài:

KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP TÍCH HỢP KIẾN THỨC LUYỆN TỪ VÀ CÂU TRONG TẬP ĐỌC LỚP HAI

Người viết : Đỗ Thị Vỹ

I/ Đặt vấn đề:

Một trong những mục tiêu quan trọng của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học là : “Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy” (chương trình Tiểu học mới).Đối với lớp Hai, chương trình Tiểu học ban hành kèm theo Quyết định 43/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 9 tháng 11 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo cũng quy định:·        Về kiến thức từ vựng:-         Học thêm 300 đến 500 từ ngữ, trong đó có một số thành ngữ, tục ngữ và một số từ Hán Việt thông dụng.·        Về ngữ pháp:-         Nhận biết các từ chỉ người, vật, hành động, tính chất.-         Nắm được cách đặt một số kiểu trần thuật đơn và cách dùng các dấu chấm, phẩy, chấm hỏi, chấm than.Tuy nhiên, phân môn LT và C chương trình lớp Hai chỉ bố trí một tiết nên giáo viên cần phải ôn luyện, củng cố thường xuyên ngay trong các phân môn khác của Tiếng Việt, nhất là phân môn Tập đọc.Sách Dạy Tập đọc ở Tiểu học có viết: “Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được nên bên cạnh rèn luyện kỹ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh.Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy học sinh (HS) còn nghèo về vốn từ, kỹ năng nhận biết từ, sử dụng các kiểu câu, dấu câu còn hạn chế. Để thực hiện được mục tiêu của môn Tiếng Việt, chúng tôi thực hiện phương châm: “Mưa lâu thấm đất” thường xuyên củng cố kiến thức LT và C cho HS.Trên cơ sở đó, chúng tôi nghiên cứu vận dụng vào thực tế giảng dạy Tập đọc lớp Hai và tổng kết thành đề tài SKKN “Kinh nghiệm tích hợp, lồng ghép củng cố kiến thức Luyện từ và câu trong phân môn Tập đọc lớp Hai”.

II/ Cơ sở  lí luận: Như chúng ta đã biết, quan điểm tích hợp là một trong ba quan điểm dạy Tiếng Việt theo chương trình thay sách giáo khoa mới của Bộ Giáo dục. Việc tích hợp kiến thức Luyện từ và Câu vào phân môn Tập đọc giúp cho HS được ôn luyện kiến thức cũ đã được học một cách thường xuyên. Hiểu được vấn đề này, người giáo viên biết vận dụng tích hợp vào các phân môn trong Tiếng Việt sẽ có tác dụng kép. Vì vậy để phát huy mặt tích cực của quan điểm này, tôi đã tích hợp thường xuyên kiến thức Luyện từ và Câu vào phân môn Tập đọc giúp học sinh có thêm vốn từ ngữ. Qua đó, HS lớp Hai hiểu nghĩa của từ, mở rộng thêm vốn từ và có ý thức sử dụng đúng từ ngữ, viết văn tròn câu, đúng chính tả (đúng ngữ nghĩa) ở mức độ đơn giản.

III/ Cơ sở thực tiễn: Tâm lý học sinh Tiểu học “Dễ nhớ, mau quên” nên giáo viên phải thường xuyên ôn luyện kiến thức cũ cho các em. Thế nhưng, theo phân phối chương trình, mỗi tuần học sinh lớp Hai chỉ được học có 1 tiết luyện từ và câu. Trong khoảng thời gian một tuần đó, nếu giáo viên không tìm cách ôn cho HS thì việc các em quên kiến thức cũ sẽ không tránh khỏi. Chính vì điều đó, trách nhiệm đặt lên vai người giáo viên là phải làm thế nào giúp các em ôn luyện kiến thức luyện từ và câu mà không nhất thiết phải đến tiết học đó. Hiểu được điều đó, tôi đã nghiên cứu kỹ nội dung chương trình môn Tiếng Việt và tìm cách tích hợp kiến thức luyện từ và câu vào phân môn Tập đọc nhằm giúp học sinh được ôn luyện kiến thức Luyện từ và Câu một cách thường xuyên, giúp các em ghi nhớ bài một cách kỹ càng, làm nền móng cho các em tiếp tục học ở các lớp trên.

IV/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

1/ Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 2B Trường Tiểu học số 2 Duy Vinh.

2/ Phạm vi nghiên cứu: Phân môn Tập đọc, Luyện từ và Câu  lớp Hai

V/ Các biện pháp thực hiện:

1/ Nắm nội dung chương trình phân môn Luyện từ và CâuNgay từ đầu năm, khi nhận nhiệm vụ dạy lớp Hai, tôi tiến hành nghiên cứu kĩ nội dung chương trình Luyện từ và câu trong suốt năm học. Qua nghiên cứu chương trình, tôi nắm được nội dung các kiến thức như sau:+ Về từ vựng, học sinh mở rộng vốn từ theo chủ điểm+ Về từ loại, học sinh bước đầu được rèn luyện cách dùng các từ chỉ sự vât (người, con vật, đồ vật, cây cối); từ chỉ hoạt động, trạng thái; từ chỉ đặc điểm, tính chất; từ cùng nghĩa, từ trái nghĩa (bắt đầu xuất hiện kiến thức này từ tuần 5); biết viết hoa tên riêng.+ Về câu, Học sinh được làm quen với các kiểu câu trần thuật đơn cơ bản Ai là gì?, Ai làm gì? Ai thế nào?, các bộ phận của các câu ( trả lời cho các câu hỏi Ai ?, Là gì?, Làm gì?, (HKI), Khi nào?, Ở đâu?, Như thế nào?, Vì sao?, Để làm gì(HKII).+ Về  dấu câu: Học sinh được học bốn dấu câu: dấu chấm hỏi, dấu phẩy, dấu chấm và dấu chấm than. Trong đó dấu chấm và dấu phẩy được nhắc lại nhiều lần trong khi đó dấu chấm hỏi chỉ được nhắc trong hai bài và dấu chấm than một bài.Trên cơ sở nội dung chương trình, LT & C, để thực hiện tốt nội dung LT & C, tôi tiến hành củng cố thường xuyên ngay trong các bài Tập đọc, Tập đọc-Kể chuyện và thể hiện rõ trong kế hoạch bài dạy.

2/ Lồng ghép, tích hợp kiến thức Luyện từ trong Tập đọc. Như ta đã biết, nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy từ ở Tiểu học nói chung, ở lớp Hai nói riêng là giúp Học sinh mở rộng, phát triển vốn từ (phong phú hóa vốn từ); nắm nghĩa của từ (chính xác hóa vốn từ); quản lý, phân loại vốn từ (hệ thống hóa vốn từ) và luyện tập sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ). Tuy nhiên, trong phân môn Luyện từ và câu, học sinh được mở rộng vốn từ theo chủ điểm thông qua các bài tập thực hành (mỗi tuần chỉ có một tiết) nên các bài tập đọc là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ nêu trên.          Theo mục tiêu dạy Tập đọc, SGK Tiếng Việt hai đã đưa ra các từ ngữ cần cung cấp cho Học sinh trong mỗi bài tập đọc từ 5 đến 6 từ ngữ. Đó là những từ ngữ mới, từ ngữ khó về nghĩa đã được SGK “nhặt ra” và chú giải sau mỗi bài tập đọc. Nhưng mỗi bài Tập đọc cũng có số từ không phải là từ mới, từ khó mà là từ địa phương hoặc từ then chốt để hiểu nội dung bài… nhiều học sinh chưa nắm được. Theo GS,TS Nguyễn Minh Thiết: “Giáo viên cần căn cứ vào tình hình cụ thể của học sinh lớp dạy để bổ sung những từ khác cần chú giải ngoài những từ ngữ đã được đề cập trong sách giáo khoa”.          Vì vậy, khi dạy Tập đọc, tôi nghiên cứu, tìm hiểu chương trình để chọn từ cần giải nghĩa. Ngoài những từ ngữ đã được đề cập trong phần chú giải, tôi chọn trong mỗi bài tập đọc từ 2 đến 3 từ ngữ để cung cấp thêm. (Xem phụ lục 1, cột 1,2,3)Ví dụ:

Tên bài tập đọc Từ ngữ chú giải ở SGK Từ ngữ cần cung cấp Biện pháp giảng từ cung cấp thêm
Trên chiếc bè - ngao du thiên hạ, bèo sen, bái phục, lăng xăng, váng, - ghép- hòn cuội- âu yếm - Động tác- Trực quan vật thật- Đặt câu: “Mẹ âu yếm vỗ về em khi em bị ốm”

3/Tìm hiểu phương pháp giảng từ thích hợp Khi thiết kế bài soạn, tôi chọn những từ cần giảng và tiếp tục tìm ra phương pháp giảng từ thích hợp cho mỗi từ ngữ nhằm giúp học sinh mau hiểu từ trong ngữ cảnh cụ thể: Sách “Dạy học Từ ngữ ở Tiểu học” của Phan Thiều và Lê Hữu Tĩnh có viết: “Nghĩa của từ rất quan trọng. Dạy từ mà không cho học sinh hiểu từ, nắm rõ nghĩa của từ là một việc làm vô bổ bởi như thế thì các em làm sao mà dùng được từ đã cung cấp. Nhưng do tính phức tạp của nghĩa cho nên người dùng phải thận trọng”. Nhận thức được điều đó, tôi đã sử dụng các phương pháp giảng từ ngữ cho học sinh xếp theo thứ tự ưu tiên:1)    Dùng hình ảnh tranh vẽ để trực quan2)    Dùng động tác3)    Dùng người thật, vật thật còn gọi là “trực quan sống”4)    Cho tìm từ gần nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giảng.5)    Dùng từ ngữ nêu tình huống hoặc minh họa cho từ cần giảng6)    Đặt câu với từ cần giảng, nếu học sinh dùng từ đó một cách phù hợp trong câu thì xem như đã hiểu điều đó.7)    Định nghĩa theo từ điển  (Trích “Đề án nâng cao chất lượng soạn giảng phân môn Học vần-Tập   đọc-Học thuộc lòng-Chính tả ở Tiểu học” của Bộ phận Phòng Giáo dục Duy Xuyên)Đối với học sinh lớp Hai, chúng tôi thường không dùng phương pháp 7 (Định nghĩa theo từ điển) vì định nghĩa theo từ điển thường thoát ly ngữ cảnh và thường dẫn học sinh đi từ khái niệm khó hiểu này đến khái niệm khó hiểu khác.    Tôi đã giải từ  theo các bước sau:      Bước 1: Tôi đọc kỹ bài Tập đọc, nghiên cứu chọn từ bổ sung cần cung cấp. Sau khi chọn xong, tôi lựa chọn phương pháp giảng từ thích hợp (Dựa vào 7 phương pháp giảng từ đã nêu) để cung cấp cho học sinh. Việc làm này thể hiện rõ trong kế hoạch bài dạy. Bước 2: Khi giải nghĩa từ, tôi thường chia thành 2 loại: từ đã chú giải ở SGK và từ cần bổ sung. Đối với từ đã chú giải ở SGK và từ cần bổ sung, tôi giải nghĩa từ lồng ghép trong quá trình hướng dẫn học sinh luyện đọc nhất là luyện đọc câu khó.Ví dụ: Bài Tập đọc : Ngôi trường mới (Trang 50-TV tập 1)·        Loại từ ngữ chú giải: Học sinh đọc chú giải sau khi đọc văn bản.·        Loại từ cung cấp thêm: “lụa”, “ấm áp”, “yêu”-         Lụa: Trực quan vật thật (miếng vải lụa)-         Ấm áp: Dùng phương pháp đặt câu.-         Yêu: Tìm từ có nghĩa trái ngược(từ trái nghĩa) (Xem phụ lực 1, cột 4)

4/ Củng cố kiến thức Luyện từ và câu qua các đoạn, bài học thuộc lòng.Theo quy trình giảng dạy Tập đọc, khâu kiểm tra bài cũ thường yêu cầu học sinh đọc bài tập đọc hoặc đọc thuộc lòng bài(đối với văn vần), thuộc đoạn(đối với văn xuôi) đã học tiết trước. GV nhận xét và có thể hỏi thêm nội dung đoạn, bài đã học để củng cố kĩ năng đọc hiểu. Theo đó, mỗi đoạn bài tập đọc, tôi thường chọn đoạn có kiến thức luyện từ và câu để củng cố. Khi yêu cầu các em về học thuộc đoạn đó, tôi ra thêm một câu hỏi ngắn nhằm giúp các em tái hiện kiền thức luyện từ và câu trong lúc đọc thuộc lòng. Ví dụ 1: Bài Tập đọc “Một trí khôn hơn trăm trí khôn”          Tôi chọn đoạn sau: “Một buổi sáng, đôi bạn dạo chơi trên cánh đồng. Chợt thấy một người thợ săn, chúng cuốn quýt nấp vào một cái hang. Nhưng người thợ săn đã thấy dấu chân của chúng. Ông reo lên: “Có mà trốn đằng trời!” Nối rồi, ông lấy gậy thọc vào hang”. Câu hỏi củng cố: 1/ Một buổi sáng đôi bạn dạo chơi ở đâu?          2/ Tìm một từ có thể thay thế từ “nấp”, “trốn” trong đoạn văn? Ví dụ 2: Bài Tập đọc “Câu chuyện bó đũa” Tôi chọn đoạn sau:           “Người cha liền bảo:-         Đúng. Như thế la các con đều thấy rằng chia rẻ ra thì yếu, hợp lại thì mạnh. Vậy các con phải biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Có đoàn kết thì mới có sức mạnh”.Câu hỏi củng cố: Tìm các cặp từ trái nghĩa trong đoạn văn trên?Xin nói thêm:

Dạng kiến thức từ cùng nghĩa, từ trái nghĩa trong LT & C lớp Hai được chính thức đề cập trong tiết LT & C  ở tuần 34 nhưng các câu hỏi lại xuất hiện rải rác từ tuần thứ 5. Vậy các dạng câu hỏi nêu trên, phải được củng cố thường xuyên. Nếu để đến tuần 34 mới học là quá muộn. Nội dung cuảng cố LT & C trong biện pháp này, tôi thể hiện ngay trong kế hoạch bài dạy.

5/ Lồng ghép, tích hợp kiến thức luyện từ và câu trong việc rèn cách ngắt câu, ngắt nhịp. Theo quan điểm tích hợp, các phân môn(Tập đọc, Kế chuyện, Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn) được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau. Vì vậy, các bài Tập đọc có vai trò rất quan trọng. Có thể coi đó là bộ xương của các chủ điểm vì các bài tập đọc luôn gắn với các chủ điểm nhất định, là nguồn nguyên liệu sinh động để các loại bài học khác như LT&C khai thác. Vậy bài LT&C sẽ hệ thống hóa các từ ngữ, các kiểu câu từ các bài tập đọc để tập giải nghĩa, phân tích và sử dụng. Chính quan hệ đó, tôi tiến hành LT&C ngay trong khi tập đọc.          Như trên (BP1) đã nêu về phần từ ngữ, tôi lồng ghép giải thích nhằm tích cực hóa vốn  từ thì ở đây tôi tiếp tục LT&C thông qua việc hướng dẫn học sinh đọc câu dài ngay khi rèn đọc cho học sinh.          Như ta đã biết, các văn bản tập đọc trong SGK Tiếng Việt 2 rất phù hợp với hệ thống chủ điểm. Tuy nhiên mỗi văn bản đọc đều có từ 1 đến 2 câu dài. Khi luyện đọc, HS phải luyện đọc ngay theo đơn vị câu. Do đó, khi lập kế hoạch dạy học, gặp câu dài, tôi viết ra băng giấy hướng dẫn HS ngắt nghỉ cho đúng chỗ. Tận dụng các câu dài được ghi ra băng giấy, tôi lồng ghép củng cố ngay kiến thức LT&C.Ví dụ :  Bài Tập đọc :  Cây đa quê hương (trang 93,TV tập 2)   Trên băng giấy tôi viết câu sau:

Trong vòm lá, / gió chiều gẩy lên những điệu nhạc li kì / tưởng chừng như ai đang cười /  đang nói.//

Sau khi hướng đọc theo đúng ngữ đoạn (ngắt, nghỉ), tôi lồng ghép kiến thức LT&C.          * Em hãy nêu bộ phận trả lời cho câu hỏi “Ở đâu…?”          HS sẽ nêu bộ phận trả lời cho câu hỏi “Ở đâu” là: Trong vòm lá.          ** HS Giỏi: Nêu hình ảnh so sánh trong câu (điệu nhạc li kì như ai đang cười đang nói) Trong biện pháp này, tôi xin đơn cử một số ví dụ của một số bài tập đọc:

Tên bài tập đọc Câu dài, (đoạn), khổ thơ… Nội dung củng cố
Ngày hôm qua đâu rồi Em cầm tờ lịch cũ //Ngày hôm qua đâu rồi?Ra ngoài sân hỏi bố /Xoa đầu em / bố cười // Tìm từ chỉ hoạt động của bé, của bố.-         (cầm, hỏi)-         (xoa, cười)
Làm việc thật là vui Quanh ta,/ mọi vật/ mọi người đều làm việc//.Cành đào nở hoa/ cho sắc xuân thêm rực rỡ/ ngày xuân thêm tưng bừng// Tìm từ chỉ hoạt động – nói một câu có chứa từ “tưng bừng”Chúng em chuẩn bị cờ hoa tưng bừng để đón chào năm học mới.
Bạn của Nai nhỏ Sắp tóm được Dê Non/ thì bạn con đã kịp lao tới/ dùng đôi gạt chắc khỏe/ húc Sói ngã ngửa// Tìm từ chỉ hoạt động trong câu?TL: tóm, lao tới, húc
Bà cháu Ba bà cháu rau cháo nuôi nhau/ tuy vất vả/ nhưng cảnh nhà lúc nào củng đầm ấm// Tìm từ trái  nghĩa với từ “vất vả”Vất vả >< rảnh rang, nhàn rỗi
Bàn tay dịu dàng Thế là chẳng bao giờ An nghe bà nghe kể chuyện cổ tích chẳng bao giờ An được bà âu yếm vuốt ve(Câu này băng giấy chưa ghi dấu) Có thể đặt dấu phẩy, dấu chấm vào chỗ nào trong câu trên?(Với câu này, chúng tôi luyện đọc ngắt câu sau khi củng cố cách viết dấu câu.)
Cây xoài của ông em Mùa xoài nào/ mẹ em củng chọn những quả chín vàng và to nhất/ bày lên bàn thờ ông// Ăn qur xoài các chín/ trảy từ cây của ông em trồng/ kèm với xôi nếp hương/ thì đối với em không thứ quà gì ngon bằng// Qua hai câu, tìm các từ chỉ quan hệ của những người trong gia đình.(Ông, mẹ, em)Tìm một từ khác có thể thay thế cho từ “trảy”(Ngắt, hái)

6/ Hệ thống từ theo từng chủ đề. Để vốn từ ngày càng phong phú, HS nhớ lâu và vận dụng tốt, tôi yêu cầu mỗi em sắm một quyển sổ để ghi lại những từ ngữ trong giờ học bài ở nhà. Học đến bài nào, các em tự nhặt ra sổ tay “trích lũy từ ngữ” các từ của bài đó và các từ ngữ được cô giáo cung cấp thêm. Về phía giáo viên, với mỗi bài dạy, tôi ghi lại những từ chú giải sau phần bài đọc và một số từ cung cấp then chốt đã cung cấp(ở BP1) vào sổ tư liệu nghiệp vụ( Sổ tự học). Dạy xong một chủ đề, tôi hệ thống lại những từ thuộc chủ đề đó(viết mặt sau tờ lịch lớn cỡ 40 x 60 (cm))tổ chức cho học sinh ôn luyện.Ví dụ 1: Chủ đề “Bạn bè” (từ tuần 3 đến hết tuần 4) học sinh được ôn với các từ ngữ sau:

Từ chú giải sau bài học Từ cung cấp sau giảng
Ngăn cản, hích vai, thông minh, hung ác, gạc/, sâu thẳm, hạn hán, lang thang/-         tết , bím tóc đuôi sam, loang choang, ngượng nghịu, phê bình-         ngao du thiên hạ, bèo sen, bái phục, lăng xăng, váng Bé bỏng, chắc khỏe, ngăn cản  Khắp nẻo, xa xưa, ngước khùm mặt, đối xử, vui vẻ Ghép, hòn cuội, âu yếm, ngắm, hoan nghênh, chiếc bè

Ví dụ 2: Tương tự chủ đề “Bốn mùa” (tuàn 19 đến tuần 20)

Từ chú giải sau bài đọc Từ cung cấp sau giảng
Đâm chồi nảy lộc, đơm, bập bùng, tựu trường, bưu điện, trung thu,, thi đua, hành, kháng chiến, hòa bình, đồng hành, hoành hành, ngảo nghễ, vững chãi, đẵn, ăn năn, nồng nàn, khứu, đỏm day, trầm ngâm. Tươi tốt, sung sướng, bóc thư, ngoan ngoãn, bận rộn, lồm cồm, ăn năn, rực rỡ, tràn

Ví dụ 3: Chủ đề “Bác Hồ” (tuần 30 đến hết tuần 31)

Từ chú giải sau bài đọc Từ cung cấp sau giảng
Hồng hào, lời non nớt, trìu mến, mừng rỡ; Ô lâu, khóc thầm, ngẩn ngơ, ngờ; thường lệ, tần ngần, chú cần vụ, thắc mắc; uy nghi, tụ hội, tam cấp, non sông gấm vóc, tôn kính. Quây quanh, dắt, mắng phạt, ngoan; bặc phơ, bâng khuâng, trung thu, ngoàn ngoèo, chui, xới đất, vạn tuế, viếng, phô sắc

7/ Tổ chức trò chơi học tập. Tổ chức trò chơi trong tiết học để củng cố lại phần kiến thức đã học và tạo hứng thú học tập của học sinh, đồng thời giúp các em khắc sâu được kiến thức.·        Bước 1: Tôi chọn trò chơi phù hợp với thời lượng của trò chơi trong tiết học.Chuẩn bị của giáo viên: Chọn nội dung cho phù hợp với tên trò chơi.Hướng dẫn và giải thích cách chơi cho học sinh rõ.Điều khiển học sinh chơi·        Bước 2: Học sinh thực hành chơi.Ví dụ 1: Trò chơi “Nhà thông thái”o      Em hãy tìm từ nào trong các từ sau đây không thuộc chủ đề “Thầy cô”:Dạy dỗ, tận tụy, yếu trẻ, bạn thân, giảng bàio       Em hãy tìm những từ không thuộc chủ đề “Cây cối”:Cây cà, cây thông, cây bao búp, cây dừa, cây đa, cây trụ điện, cây si.Ví dụ 2:Trò chơi “Tiếp sức” Tổ chức cho các em đều được tham gia(Lớp có 3 tổ).       Yêu cầu: Em hãy tìm từ thuộc chủ đề muông thú? Phát lệnh: “Bắt đầu”.       Em thứ nhất lên bảng ghi 01 từ rồi đi xuống chuyền phấn cho các bạn thứ hai lên ghi tiếp, lần lượt đến hết thời gian cho phép, tổ nào tìm được nhiều từ, tổ đó thắng.Ví dụ 3: Trò chơi “Em làm giám khảo” Gọi 03 em lên bảng viết 03 từ thuộc chủ đề “bạn bè”. Cả lớp làm ban    giám khảo chấm đúng sai.

VI/ Kết quả Qua quá trình nghiên cứu thực hiện, tôi thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp về cách làm nên bước đầu đạt được kết quả khả quan. Các em nói năng mạnh dạn hơn, nói câu đủ ý, dùng từ hay, đúng. Kết quả cho từng thời điểm như sau:

Thời điểm Giỏi Khá TB Yếu
SL % SL % SL % SL %
HK I
Giữa kỳ II

VII/ Bài học kinh nghiệm: Qua quá trình thực nghiệm tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:- Giáo viên đầu tư nghiên cứu kĩ chương trình SGK, tùy theo đặcđiểm học sinh phụ trách mà chọn kiến thức củng cố phù hợp. Khi giải nghĩa từ, giáo viên phải đặt từ đó vào ngữ cảnh cụ thể. Riêng kiến thức từ cùng nghĩa, trái nghĩa, gần nghĩa, giáo viên không đi sâu cơ sở lý thuyết mà chỉ giới thiệu để học sinh tập xác định.- Khi hướng dẫn học sinh củng cố mở rộng và phát triển vốn từ, giáo viên cần hiểu từ ngữ trong một chủ đề không có số lượng xác định, vốn từ tìm tàng trong trí óc học sinh không đồng đều, không hoàn toàn giống nhau.- Khi giao tiếp, giáo viên cần tập cho học sinh cách nói trọn câu, đủ ý, nhất là khi trả lời câu hỏi. Trong khi dạy các phân môn khác, giáo viên củng thường xuyên củng cố các kiểu câu đã học, tập cho học sinh viết câu đúng ngữ pháp, đúng chính tả.- Trên đây là những kinh nghiệm tôi tích lũy được trong quá trình dạy Tập đọc với mong muốn ngoài nhiệm vụ chung còn phải cung cấp mở rộng thêm vốn từ, củng cố các kiểu câu theo chương trình mục tiêu dạy học Tiếng Việt đặt ra.

Liveshow hot trên truyền hình:
Sáng kiến kinh nghiệm hot Sáng kiến kinh nghiệm kinh nghiệm lồng ghép kiến thức luyện từ và câuLich phat song giong hat viet nhi  - Sáng kiến kinh nghiệm hot Sáng kiến kinh nghiệm kinh nghiệm lồng ghép kiến thức luyện từ và câu  Lịch cắt điện hà nội tháng 5 - Sáng kiến kinh nghiệm hot Sáng kiến kinh nghiệm kinh nghiệm lồng ghép kiến thức luyện từ và câuThời tiết hà nội 3 ngày tới

Gửi nhận xét của bạn về bài viết Sáng kiến kinh nghiệm kinh nghiệm lồng ghép kiến thức luyện từ và câu

Bạn phải đăng nhập để gửi nhận xét.

tra cuu diem thi
Doc truyen 50 sac thai xam - den - tu do