I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới đất nước phù hợp với yêu cầu CNH-HĐH đất nước, ngành giáo dục và đào tạo phải đào tạo ra những con người có đức, có tài, năng động sáng tạo làm việc có khoa học kỹ thuật và hiệu quả. Những năm gần đây ngành đã không ngừng đổi mới nội dung học của trò, phương pháp dạy của thầy nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục.
1. Lý do khách quan.
Như ta đã biết, bộ môn Vật lý là cơ sở của nhiều ngành khoa học kỹ thuật, vì vậy người học hiểu và nhận thức được các hiện tượng, quy luật vật lý là rất quan trọng. Vai trò của sách giáo khoa cung cấp nội dung kiến thức cơ bản hiện đại sát với thực tế là một điều không thể thiếu cho người học. Bên cạnh đó vai trò chủ đạo của người thầy trong việc hướng dẫn học sinh lĩnh hội những kiến thức cũng rất quan trọng. Người thầy trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh thấy đựơc, hiểu được và biết áp dụng những cái mình đã học vào cuộc sống thường ngày.
Muốn vậy, người dạy phải tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng người học, cách thức truyền đạt từng nội dung, từng bài sao cho đơn giản để người học lĩnh hội được các kiến thức nhanh và bền vững. Đồng thời, người dạy dễ sử lý các tình huống trong quá trình giảng dạy.
2. Lý do chủ quan
Qua giảng dạy vật lý bậc THCS, tôi thấy đa số nội dung kiến thức học sinh dễ học, dễ hiểu và mang lại nhiều thông tin mới cho học sinh. Tuy nhiên vẫn còn gặp phải một số khó khăn cho người dạy, người học dẫn đến hiệu quả giảng dạy chưa cao ở môn vật lý 8. Cụ thể như khi dạy bài áp suất, lực đẩy ác – si – mét, nhiệt năng,…..
Bản thân tôi cũng chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, bản thân còn phải học hỏi nhiều. Tôi mạnh dạn đưa ra một vài khó khăn và hướng khắc phục theo ý chủ quan của mình khi dạy: Bài 7 – Áp suất.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Đối với chương trình vật lý trung học cơ sở nói chung có những mục tiêu và đặc điểm cấu trúc như sau:
a/ Về mục tiêu gồm:
Kiến thức: Cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức vật lý phổ thông cơ bản để làm nền móng cho các cấp học cao hơn, cụ thể các kiến thức về các sự vật hiện tượng, quá trình vật lý, các khái niệm, các nguyên lý, định luật cơ bản và những hiểu biết ban đầu về một số phương pháp nhận thức đặc thù của Vật lý học đó là phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình.
Về năng lực và kĩ năng: thực hiện và quan sát, sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, kỹ năng phân tích, xử lí thông tin. Kỹ năng vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng vật lý đơn giản. Kỹ năng đề xuất các dự đoán hoặc giả thuyết đơn giản về các mối quan hệ hay bản chất các hiện tượng hoặc sự vật vật lý. Kỹ năng diễn đạt chính xác, rõ ràng bằng ngôn ngữ Vật lý.
Về thái độ: Tạo cho học sinh hứng thú trong việc học tập môn Vật lý cũng như việc áp dụng các hiểu biết của mình vào cuộc sống, có ý thức sẵn sàng tham gia vào các hoạt động trong gia đình, nhà trường và xã hội. Có thái độ trung thực, cẩn thận, chính xác trong việc thu nhận thông tin, trong quá trình quan sát và thực hành thí nghiệm.
b/ Về đặc điểm cấu trúc.
Chương trình Vật lý THCS được trình bày theo dạng xoắn ốc. Chương trình Vật lý lớp 6, lớp 7 tìm hiểu lần lượt các kiến thức về: Cơ học, Nhiệt học, Quang học, Điện học. Chương trình Vật lý lớp 8, lớp 9 tìm hiểu lần lượt lại các kiến thức đó ở mức độ cao hơn.
Chương trình Vật lý 8 thuộc giai đoạn 2 của chương trình Vật lý THCS. Chương trình Vật lý lớp 8 tạo điều kiện phát triển các năng lực của học sinh lên mức độ cao hơn và yêu cầu cao hơn đối với học sinh. Đó là những yêu cầu về khả năng phân tích, tổng hợp các thông tin và dữ liệu thu thập được; khả năng tư duy trừu tượng, khái quát trong xử lí thông tin để hình thành khái niệm, rút ra các quy tắc, quy luật và định luật vật lý. Đó là những yêu cầu về khả năng quy nạp, diễn dịch để đề xuất các giả thuyết, rút ra các hệ quả có thể kiểm tra, xây dựng các phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết hoặc hệ quả của nó. Đó là những yêu cầu về khả năng phát hiện các mối quan hệ định lượng đối với một đại lượng Vật lý, đối với các đại lượng trong một định luật vật lý.
Dựa vào kinh nghiệm sống và vốn hiểu biết về phần cơ học mà học sinh đã học ở chương trình Vật lý lớp 6 học sinh có thể nắm được một cách định lượng các đại lượng Vật lý ở lớp 8 như: Vận tốc, Lực, Áp suất, công, công suất, cơ năng .. Đó là những kiến thức có khả năng rèn luyện cho học sinh cách xác định định lượng các đại lượng Vật lý. Ngoài ra có thể sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản để rèn luyện kĩ năng thực hành thí nghiệm cho học sinh.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong những năm giảng dạy chương trình Vật lý 8, bản thân tôi nhận thấy việc làm cho học sinh chủ động tiếp thu kiến thức là một việc rất khó, đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian cho việc xây dựng bài giảng và biết cách điều khiển học sinh sử dụng thiết bị thí nghiệm một cách hợp lí, đặc biệt phải lựa chọn phương pháp dạy cho phù hợp với từng bài, từng phần của bài. Việc sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp với từng bài là mục tiêu của mỗi giáo viên.
Vậy tôi đã đưa ra kinh nghiệm theo ý chủ quan để thay đổi hình thức bài học và cách thức tổ chức bài học nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy Bài 7 – Áp suất – vật lý 8.
IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
Qua học kì I năm học 2009 – 2010 và những năm học trước, bản thân tôi đã giảng dạy chương trình vật lý 8, tôi nhận thấy : Một số vấn đề khó khăn khi giảng dạy: Bài 7 – Áp suất (vật lý 8), tôi đã đưa ra hướng khắc phục các khó khăn đó.
1. Một số vấn đề khó khăn khi giảng dạy bài áp suất.
Giáo viên thường lúng túng trong việc chuyển ý giữa các đề mục trong bài.
Mặt khác, dạy bài này học sinh khó hình dung một cách cụ thể khái niệm áp suất nếu chỉ diễn tả bằng lời, qua hình vẽ sẽ không gây hứng thú đối với học sinh nên làm thí nghiệm là rất quan trọng. Nhưng thí nghiệm cũng gặp khó khăn: Bột thí nghiệm rất mịn nên học sinh làm thí nghiệm rất khó, khó quan sát và xác định được các độ lún h1, h2 và h3.
2. Cách khắc phục.
Theo cá nhân tôi khi dạy bài này thì giáo viên có thể làm như sau:
a/ Về sự chuyển ý giữa các đề mục.
- Chuyển mục 1 ở phần II sang phần I.
- Thêm vào phần II mục 1. Định nghĩa
Cụ thể các phần, mục trong bài như sau:
I. Áp lực.
1. Áp lực là gì?
2. Tác dụng của áp lực phụ thuộc vào những yếu tố nào?
II. Áp suất.
1. Định nghĩa.
2. Công thức tính áp suất.
b/ Về làm thí nghiệm.
Giáo viên mua thêm bột mì để trộn lẫn với bột có trong bộ dụng cụ thí nghiệm, vì bột mì trong bộ thí nghiệm rất mịn khi đặt khối thép vào thì khối thép chìm vào trong bột, rất khó quan sát và khó xác định độ lún h1, h2, h3 để so sánh, khái quát và rút ra kết luận.
- Giáo viên phải làm trước thí nghiệm về tác dụng của áp lực phụ thuộc vào những yếu tố nào.
- Trước khi dạy giáo viên chuẩn bị sẵn bảng phụ ghi các bước thí nghiệm.
- Giáo viên phân công nhóm học sinh kẻ trước Bảng 7.1 bảng so sánh.
- Giáo viên yêu cầu nhóm học sinh làm thí nghiệm theo các bước và ghi kết quả thí nghiệm của nhóm mình.
- Sau khi học sinh làm thí nghiệm xong, giáo viên cho học sinh nhận xét kết quả làm thí nghiệm của các nhóm.
3. Giáo án minh họa.
Tuần 9. Tiết 9. Bài 7. ÁP SUẤT.
I. MỤC TIÊU.
* Kiến thức: Học sinh biết được áp lực là gì, tác dụng của áp lực phụ thuộc vào 2 yếu tố là áp lực và diện tích bị ép. Đồng thời, nắm được công thức tính áp suất đối với chất rắn.
* Kĩ năng: Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát, phân tích, so sánh kết quả thí nghiệm từ đó khái quát, rút ra kết luận.
* Thái độ: Học sinh có ý thức học tập nghiêm túc, trung thực, làm việc cẩn thận.
II. CHUẨN BỊ.
- GV: Bảng phụ : Các bước thực hành:
1.Xác định mục đích thí nghiêm
2.Dụng cụ.
3. Bố trí thí nghiệm
4. Tiến hành thí nghiệm.
5. Kết quả, so sánh, nhận xét.
6. Kết luận.
- HS: Mỗi nhóm: 3 khối thép 2x4x8, một chậu bột mì. Bảng 7.1.
III. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC.
HOẠT ĐỘNG 1. Ổn định – ôn lại kiến thức đã học.
Câu 1. Lực được biểu diễn như thế nào? Trọng lực có phương chiều như thế nào?
GV nhận xét – chốt ý – ghi điểm (nếu có)
HOẠT ĐỘNG 2. Đặt vấn đề.
- Trời mưa, ta đi vào chỗ bùn lầy thì bị lún nhưng ta lót tấm ván vào chỗ bùn lầy thì ta đi không bị lún. Vậy vì sao lại như thế, ta nghiên cứu bài hôm nay.
GV ghi tên bài học.
- Gọi một HS đọc tình huống trong sách giáo khoa – yêu cầu học sinh đưa ra ý kiến giải thích.
GV chỉnh sửa ý kiến của HS.
Vậy để hiểu rõ hơn hiện tượng này bước đầu ta nghiên cứu mục I.
HOẠT ĐỘNG 3. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu áp lực.
Gọi HS đọc thông tin SGK. Hướng dẫn Hs phân tích ví dụ trong SGK.
? Người, tủ đứng trên nền nhà, có lực nào tác dụng?
? Lực này có phương, chiều như thế nào?
GV nhận xét – bổ sung.
Trọng lực của người, của cái tủ chính là áp lực.
?Áp lực là gì?
– yêu cầu Hs ghi vở khái niệm về áp lực.
Yêu cầu HS đọc – trả lời câu C1.
Gọi HS khác nhận xét.
* Chú ý: Ở đây chỉ xét với áp lực có phương vuông góc với mặt bị ép.
GV chốt ý.
Chuyển ý:Tác dụng của áp lực phụ thuộc vào những yếu tố nào? Ta tìm hiểu mục 2.
HOẠT ĐỘNG 4. Hướng dẫn HS tìm hiểu về tác dụng của áp lực.
- Hướng dẫn HS bố trí thí nghiệm – yêu cầu HS làm theo hướng dẫn của GV.
Yêu cầu HS tiến hành thí nghiệm theo hướng dẫn sau:
Lần 1: – Đặt 1 khối thép lên bề mặt chậu bột.
– Đặt 1 khối thép lên bề mặt chậu bột và đặt thêm 1 khối thép đè lên khối thép trước.
Qua đó, em có nhận xét gì về mối quan hệ giữa áp lực và độ lún?
Lần 2: – Đặt 1 khối thép nằm lên mặt chậu bột.
– Đặt 1 khối thép dựng đứng lên mặt chậu bột.
Qua đó, em có nhận xét gì về mối quan hệ giữa diện tích bị ép và độ lún?
Yêu cầu HS hoàn thành kết luận SGK.
Chuyển ý: Tác dụng của áp lực lên mặt bị ép gọi là gì, ta tìm hiểu phần II)
Hoạt động 5. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về áp suất.
GV thông báo: Để xác định độ lớn tác dụng của áp lực ta có khái niệm về áp suất.
Ở trên ta đã biết:
- Áp lực tỉ lệ thuận với áp suất.
- Diện tích bị ép tỉ lệ nghịch với áp suất.
Rút ra công thức tính áp suất.
- Gọi HS biến đổi công thức: nếu tính S hoặc tính F.
Chú ý: Đây là áp suất đối với chất rắn.
HOẠT ĐỘNG 6. Củng cố – vận dụng
Gọi Hs giải thích các hiện tượng nêu ra ở đầu bài học.
GV nhận xét – chốt ý.
Yêu cầu HS thảo luận nhóm làm câu C4.
Học sinh (HS) 1 trả lời
Học sinh 2 nhận xét – bổ sung
(nếu có)
HS chú ý lắng nghe – suy nghĩ.
HS đọc
HS khác trả lời:
- Bánh xích có bề mặt tiếp xúc với đất lầy to. – Ô tô có lốp cao su có bề mặt tiếp xúc với đất lầy nhỏ.
I. Áp lực
1. Áp lực là gì?
HS đọc thông tin SGK.
Trả lời câu hỏi của GV.
- Lực hút của trái đất tác dụng.
- Phương thẳng đứng, vuông góc với nền nhà, chiều từ trên xuống dưới.
HS ghi vở: Áp lực là lực ép có phương vuông góc với mặt bị ép.
Đọc – trả lời câu C1: Lực ở trường hợp 1,2,3 là áp lực.
2. Tác dụng của áp lực phụ thuộc vào những yếu tố nào?
* Thí nghiệm:
- nhận dụng cụ – thiết bị.
- Bố trí thí nghiệm.
Tiến hành thí nghiệm theo hướng dẫn của giáo viên.
Sau đó lấy các khối thép lên và so sánh độ lún của 2 trường hợp, cử đại diện lên điền vào bảng phụ.
HS: Áp lực lớn – độ lún lớn: Tỉ lệ thuận với nhau.
Sau đó lấy các khối thép lên và so sánh độ lún của 2 trường hợp, cử đại diện lên điền vào bảng phụ.
HS: Diện tích bị ép nhỏ – độ lún lớn: Tỉ lệ nghịch với nhau.
* Kết luận: Tác dụng của áp lực càng lớn khi áp lực càng lớn và diện tích bị ép càng nhỏ.
II. Áp suất.
1. Định nhĩa.
Áp suất là độ lớn của áp lực trên một đơn vị diện tích bị ép.
2. Công thức tính áp suất.
- Đọc thông tin.
- Chú ý – ghi vở công thức tính áp suất:
[IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/KIEUHA%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image002.gif[/IMG] . trong đó, p là áp suất.
F là áp lực ( đơn vị là: N)
S là diện tích bị ép ( đơn vị là: m2)
Đơn vị của Áp suất là: N/m2.
1Pa = 1 N/m2
III. Vận dụng.
HS 1: giải thích.
HS 2 : nhận xét – bổ sung.
- Làm việc theo nhóm đối với câu C4.
- Cử đại diện trình bày.
Các nhóm khác nhận xét – bổ sung.
HOẠT ĐỘNG 7. Hướng dẫn về nhà.
- Về nhà học bài và làm câu C5 và bài tập 7.3; 7.4; 7.5; 7.6; 7.13.
- Đọc mục có thể em chưa biết – xem bảng áp suất của một số chất.
Mở rộng:
Ở lớp 6 cũng đã nói đến tác dụng của áp lực nhưng chỉ ở mức đơn giản, nhận biết bằng quan sát trực quan về lực và chuyển động, trong đó có một số hiện tượng có áp lực vuông góc với mặt bị ép như nói đến trọng lực.
Ở lớp 10, nói đến áp lực nhưng ở mức độ cao hơn là áp lực không vuông góc với mặt bị ép.
V. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Trong học kì I, tôi đã thực hiện bài dạy này ở hai lớp: 8B và 8C.
Lớp 8B: Khi chưa thay đổi, thấy một số khó khăn ở trên. Bên cạnh đó, học sinh làm thí nghiệm mất nhiều thời gian, vì cho khối thép vào thì khối thép bị chìm vào trong bột không quan sát được độ lún ở các trường hợp.
Lớp 8C: Sau khi thay đổi hình thức bài dạy, cách tổ chức học sinh làm thực hành với bột trộn thêm bột mì thì tôi thấy:
Bài dạy được liền mạch, sự chuyển ý mạch lạc, học sinh hình dung được nội dung bài dạy đầy đủ, nắm bài tốt hơn.
Về thí nghiệm, học sinh làm thí nghiệm và quan sát độ lún h1, h2, h3 rõ ràng hơn, học sinh căn cứ vào độ lún h1, h2, h3 để thấy được tác dụng của áp lực phụ thuộc vào diện tích bị ép được đầy đủ và vững chắc hơn, sau đó học sinh hiểu và nắm được khái niệm về áp suất.
VI. KẾT LUẬN.
Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi luôn tìm tòi để có phương pháp hướng dẫn học sinh nhận thấy rằng kiến thức trong nội dung bài học đơn giản, dễ nhớ và dễ vận dụng.
Trước khi giảng dạy giáo viên cần nghiên cứu kỹ bài dạy nhất là những bài khó, những nội dung khó hiểu giáo viên có thể tìm ra một phương án tối ưu để giảng dạy sao cho học sinh dễ hiểu, dễ học và hiệu quả giảng dạy được nâng lên. Khi lên lớp giáo viên kết hợp nhiều phương pháp, nhiều cách thức dạy học nhằm tạo sự say mê ham học của người học.
Trong quá trình giảng dạy cần thường xuyên đặt những câu hỏi tác động đồng thời các đối tượng giỏi, khá, trung bình, yếu. Các câu hỏi đưa ra sát với nội dung bài học rõ ràng dễ hiểu. Nếu khó có thể sử dụng câu hỏi gợi mở để học sinh trả lời.
VII. ĐỀ XUẤT – KIẾN NGHỊ.
Tôi và rất nhiều đồng nghiệp muốn dự giờ các đồng chí giáo viên giàu kinh nghiệm để học hỏi. Đề nghị lãnh đạo phòng GD & ĐT, các trường tạo điều kiện.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ của tôi, với tôi đó là bài học kinh nghiệm. Nó có thể chưa đầy đủ, chưa sâu sắc. Rất mong sự giúp đỡ, góp ý của đồng nghiệp để tôi nâng cao trình độ chuyên môn.
Liveshow hot trên truyền hình:
Lich phat song giong hat viet nhi -
Lịch cắt điện hà nội tháng 5
-
Thời tiết hà nội 3 ngày tới
Bài viết liên quan
- Một số kinh nghiệm phát huy tính tích cực học tiếng anh Cho học sinh lớp 8
- Sáng kiến kinh nghiệm kinh nghiệm lồng ghép kiến thức luyện từ và câu
- Sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 hoc tốt phân môn tập làm văn
- Sáng kiến kinh nghiệm Trò chơi phát triển tư duy cho trẻ
- Sáng kiến kinh nghiệm Phát triển tư duy cho học sinh qua dạy học môn tiếng Việt
Bài cùng chuyên mục
- Sáng kiến kinh nghiệm môn toán lớp 6 - Khái niệm số thập phân
- Sáng kiến kinh nghiệm môn toán lớp 6 - ôn bài luyện tập
- Sáng kiến kinh nghiệm môn khoa học lớp 6 - Phòng bệnh viêm não
- Sáng kiến kinh nghiệm môn tiếng anh lớp 8 - tiết 37 kiểm tra lần 2
- Sáng kiến kinh nghiệm môn tiếng anh lớp 8 - kiểm tra 15 phút








