-
Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học – môn thể dục

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xa xưa, con người đã coi tập luyện thể dục thể thao (TDTT) là biện pháp tích cực hiệu quả đối với việc tăng cường sức khoẻ và giúp con người ý thức hơn về cái đẹp, cái đáng quý của bản thân mình. Đó là vẽ đẹp của sức mạnh, vẽ đẹp của một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể cường tráng, tạo niềm tin cho chúng ta bước vào cuộc sống hiện hữu và tương lai phía trước.
Muốn được như vậy chúng ta phải làm gì ? Phải chăng chỉ có TDTT mới làm được như vậy ? Đó là câu hỏi trong hàng ngàn câu hỏi đang chờ chúng ta giải đáp. Thật vậy, chỉ có TDTT mới làm được điều đó. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Arix-Tor có nói “Không gì huỷ hoại thân thể bằng sự thiếu vận động kéo dài”. Vì vậy, tập luyện TDTT cũng như nhu cầu ăn uống để tồn tại và phát triển là nhu cầu thiết yếu của con người.
Nhận thức được điều đó Đảng và nhà nước ta luôn xác định sức khoẻ của con người là vốn quý của xã hội, là tài sản vô giá của dân tộc. Lúc sinh thời Bác Hồ đã nói “Dân giàu thì nước mạnh, mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khoẻ góp phần làm cho cả nước mạnh khoẻ”. Những năm qua Đảng chỉ đạo ngành TDTT phải thực hiện việc đưa TDTT về cơ sở là nhiệm vụ hàng đầu, trong đó phải nói tới cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện TDTT theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Ngày nay trong giai đoạn đất nước ngày một phát triển, từng bước tiếp cận nền văn minh của châu lục và thế giới thì vai trò của thế hệ trẻ ngày càng được khẳng định, họ chính là chủ nhân tương lai của cả nước sau này, trong đó lực lượng học sinh, sinh viên là nòng cốt. Do đó, TDTT trong trường học là bộ phận quan trọng của TDTT xã hội, thực hiện chức năng giáo dục thể chất (GDTC) cho thế hệ trẻ vốn có kĩ năng, kĩ xảo vận động cơ bản, tăng cường khả năng làm việc của hệ hô hấp, hệ tim mạch, hệ vận động, đồng thời chuẩn bị thể lực cho các em vào cuộc sống mới. Luật giáo dục được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/06/2005 quy định “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Hay pháp lệnh TDTT được uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua tháng 9/2000 quy định “Nhà nước coi trọng TDTT trường học nhằm phát triển hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên nhi đồng. GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục từ mầm non đến đại học” qua đó khẳng định vai trò và ý nghĩa to lớn của công tác giáo dục trong trường học. Tuy nhiên thực tế hiện nay còn không ít địa phương, trường học còn xem nhẹ việc này, như bố trí giáo viên dạy thể dục trái với chuyên môn được đào tạo hoặc do nguyên nhân chủ quan và khách quan, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, cũ kĩ, sân bãi dụng cụ không đảm bảo về chất lượng, thậm chí không đủ để học tập, thiếu giáo viên thể dục, nội dung giảng dạy chưa gây hứng thú tập luyện cho học sinh. Do vậy chưa tạo ra tính hứng thú học tập và hoạt động TDTT của học sinh trong nhà trường từ đó sinh ra chán nản, không ham học mà chỉ có hình thức học đối phó, học cho qua, học không đạt yêu cầu tiêu chuẩn RLTT về giáo thể dục thể chất ở nhà trường do Bộ Giáo dục đề ra.
Thực tế đã chứng minh muốn làm được bất cứ điều gì đạt hiệu quả cao thì trước hết phải hứng thú đối với công việc đó, trong luyện tập TDTT ngoài khả năng luyện tập của bản thân còn có nhiều đức tính để tạo cho học sinh đạt kết quả cao như đức tính tự giác, tính sáng tạo, nổ lực ý chí, ý thức học tập, động cơ luyện tập đúng đắn, hứng thú trong luyện tập. Nhưng trong đó tính hứng thú của học sinh có liên quan rất lớn đến quá trình luyện tập nói chung và môn học TDTT nói riêng. Hứng thú trong thể thao là vấn đề cần thiết để nâng cao hiệu quả học tập và rèn luyện sức khoẻ.
Thực tế thì trong nhiều năm qua việc học TDTT nói chung và tập luyện các môn thể thao nằm trong hệ thống thi đấu tại HKPĐ nói riêng chúng ta chưa đưa ra cho các em được một nội dung, một môn học thể thao hợp lý nên chưa gây được sự hứng thú say sưa tập luyện trong các em.
Xuất phát từ thực tế trên và ý nghĩa thực tiễn đó tôi mạnh dạn đi sâu tìm hiểu đề tài:
“Điều tra tính hứng thú tập luyện các môn thể thao nằm trong hệ thống thi đấu tại Hội Khoẻ Phù Đổng, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tập luyện các môn thể thao đó cho học sinh”
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
II.1. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của chúng tôi là tìm hiểu về sự hứng thú tập luyện TDTT của học sinh đồng thời tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú tập luyện TDTT và các giải pháp đúng đắn, hiệu quả đưa ra một nội dung tập luyện cho phù hợp với các em.
II.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích tìm hiểu và đánh giá của đề tài chúng tôi xác định 2 nhiệm vụ sau:
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng tính hứng thú tập luyện các môn thẻ thao trong hệ thống thi đấu tại HKPĐ của học sinh.
- Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến tính hứng thú tập luyện TDTT của học sinh và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các môn thể thao này.
II.3. Phương pháp nghiên cứu:
Tôi đã sử dụng các phương pháp sau để tìm hiểu:
II.3.1. Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát giờ lên lớp thể dục của các đồng nghiệp, giờ huấn luyện các môn thể thao của trường bạn, theo dõi cụ thể từng đối tượng học sinh của các đội tuyển, xem xét mức độ hứng thú tập luyện TDTT của học sinh nói chung.
II.3.2. Phương pháp phỏng vấn toạ đàm: Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn bằng phiếu gửi cho 100 học sinh (trong đó 50 học sinh nam, 50 học sinh nữ)
Trao đổi và thảo luận với giáo viên giảng dạy thể dục, một số đồng nghiệp các trường bạn và một số học sinh ham thích TDTT để xác định rõ thêm nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc ham thích hoặc không ham thích tập luyện TDTT nói chung và các môn thể thao trong HKPĐ nói riêng.
II.3.3. Phương pháp thống kê: Tổng hợp kết quả qua phiếu phỏng vấn để xử lý số liệu thống kê.
Đối tượng mà tôi tìm hiểu là giáo viên thể dục và 100 em học sinh nam, nữ.
II.4. Phân tích kết quả:
II.4.1. Giải quyết nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng hứng thú tập luyện các môn thể thao nằm trong hệ thống thi đấu tại HKPĐ của học sinh.
Ở lứa tuổi này đặc điểm phát triển tâm lý của các em chưa hoàn thiện chú ý không bền vững dễ phân tán, cho nên phải thay đổi hình thức tập luyện trí nhớ trực quan hình tượng phát triển, các em sử dụng thủ thực ghi nhớ máy móc, dù ý thức tư duy đã hình thành. Đặc điểm phát triển sinh lý của các em bắt đầu có sự thay đổi, tuy nhiên các hệ cơ quan trong cơ thể phát triển chưa toàn diện. Vì vậy người thầy giáo, cô giáo và HLV có trách nhiệm định hướng cho các em tham gia vào các hoạt động tập luyện hợp lý nhằm phát triển và nâng cao trình độ thành tích cho các em.
Do điều kiện phạm vi cũng như chỉ thực hiện điều tra 100 học sinh trong đó 50 học sinh nam và 50 học sinh nữ hiện đang học tại trường.
Qua quá trình nghiên cứu, qua việc quan sát các buổi tập của các em và qua tham khảo ý kiến phụ trách bộ môn, tôi thấy việc tạo động cơ cho việc học tập và tập luyện một môn thể thao mà các em yêu thích là rất phù hợp.
Nhưng tập luyện ở đâu ? Tập luyện cái gì mà các em thích mới là quan trọng nếu không hướng dẫn các em vào các hoạt động lành mạnh sẽ đẩy các em vào các tệ nạn xã hội vì vậy nhiệm vụ của GDTC là tạo cho các em cái vốn để cho các em tham gia hoạt động mỗi khi tan trường. Tôi đã tìm hiểu và qua thực tế điều tra bằng phiếu phỏng vấn cho thấy kết quả cụ thể được thể hiện ở bảng sau:
* Bảng 1: Mức độ hứng thú tập luyện TDTT của học sinh nam (n=50)
Số phiếu phát ra 50, số phiếu thu vào 50
| TT | Nội dung trả lời | Kết quả thu được | Ghi chú | |
| Số phiếu trả lời | Tỷ lệ | |||
| 1 | Thích học TDTT:
a) Để rèn luyện tính nhanh nhẹn, dũng cảm, khéo léo. b) Để nâng cao sức khoẻ bản thân, nâng cao thành tích, trình độ của người tập, đạt giải trong HKPĐ c) Do tính hấp dẫn của môn học |
40 (trong đó)
8 24 8 |
80% | |
| 2 | Không thích học TDTT:
a) Vì sức khoẻ yếu. b) Phương tiện tập luyện thiếu thốn c) Các môn thể thao không phù hợp với sở thích, lứa tuổi |
8 (trong đó)
2 4 2 |
16% | |
| 3 | Không có ý kiến. | 2 | 4% | |
| Tổng cộng | 50 | 100% | ||
* Bảng 2: Mức độ hứng thú tập luyện TDTT của học sinh nữ
(n = 50)
Số phiếu phát ra 50, số phiếu thu vào 50
| TT | Nội dung trả lời | Kết quả thu được | Ghi chú | |
| Số phiếu trả lời | Tỷ lệ | |||
| 1 | Thích học TDTT:
a) Để rèn luyện tính nhanh nhẹn, dũng cảm, khéo léo. b) Để nâng cao sức khoẻ bản thân, nâng cao thành tích, trình độ của người tập, đạt giải trong HKPĐ c) Do tính hấp dẫn của môn học |
40 (trong đó)
10 23 7 |
80% | |
| 2 | Không thích học TDTT:
a) Vì sức khoẻ yếu. b) Phương tiện tập luyện thiếu thốn c) Các môn thể thao không phù hợp với sở thích, lứa tuổi |
8 (trong đó)
2 4 2 |
16% | |
| 3 | Không có ý kiến. | 2 | 4% | |
| Tổng cộng | 50 | 100% | ||
Qua kết quả trên chúng tôi nhận thấy đại bộ phận nam cũng như nữ đều ham thích học TDTT, chứng tỏ số lượng hứng thú tập luyện môn này là không nhỏ (chiếm tỷ lệ 80% trở lên) số ít không ham thích học tập TDTT (chiếm tới 16% nam và 16% nữ) số không ý kiến chiếm 4%.
Từ đó ta có thể kết luận sơ bộ về việc tập luyện TDTT trong nhà trường nhằm mục đích nâng cao sức khoẻ rèn luyện tính nhanh nhẹn, khéo léo, dũng cảm và giúp cho học sinh biết cách rèn luyện TDTT đạt kết quả tốt nâng cao thành tích đạt giải cao tại HKPĐ nhưng bên cạnh đó một số ít không ham thích tập luyện môn học này. Thể hiện ở những nguyên nhân cụ thể sau:
- Vì sức khoẻ yếu, phương tiện tập luyện còn thiếu thốn, các môn thể thao không phù hợp với sở thích … còn nhóm đối tượng cá biệt không có ý kiến gì. Tư tưởng giữa ham thích và không ham thích, nếu chúng ta tác động bài tập có kết quả cụ thể với nhóm này thì đương nhiên chúng ta có thêm được 4% sẽ là đối tượng ham thích học môn này.
Đánh giá sơ bộ về nhận thức của học sinh qua việc tập luyện các môn TDTT ta thấy phần đông nhận thức tích cực đều ham thích môn học này. Vì rằng trong sự nghiệp phát triển xã hội hiện nay, vấn đề sức khoẻ cuộc sống là điều quan tâm hàng đầu của thế hệ trẻ. Chính vì thế trong công tác GDTC hiện nay cần phải có kế hoạch hợp lý tổ chức phù hợp để phát triển thể lực học sinh.
Để tìm hiểu hứng thú tập luyện TDTT của học sinh tôi mạnh dạn điều tra và tìm hiểu xem các em thích tập luyện những môn gì và làm thế nào để gây hứng thú tập luyện cho các em ở các môn thể thao mà các em cho là không hứng thú.
Để đánh giá một cách khách quan, tôi dùng phiếu phỏng vấn để hỏi 100 học sinh của trường (50 nam, 50 nữ) về 7 môn thể thao nằm trong chương trình thi đấu HKPĐ
* Bảng 3: Mức độ hứng thú tập luyện từng môn học TDTT của học sinh nam (n = 50)
| TT | Môn thể thao | Số phiếu trả lời | Tỷ lệ % | ||
| Thích | Không thích | Thích | Không thích | ||
| 1 | Bóng đá | 48 | 2 | 96 | 4 |
| 2 | Bóng bàn | 28 | 22 | 56 | 44 |
| 3 | Cầu lông | 46 | 4 | 92 | 8 |
| 4 | Bơi lội | 41 | 9 | 82 | 18 |
| 5 | Đá cầu | 44 | 6 | 88 | 12 |
| 6 | Cờ vua | 43 | 7 | 86 | 14 |
| 7 | Aerobic | 23 | 27 | 46 | 54 |
* Bảng 4: Mức độ hứng thú tập luyện từng môn học TDTT của học sinh nữ (n = 50)
| T | |||||
Liveshow hot trên truyền hình:
Lich phat song giong hat viet nhi -
Lịch cắt điện hà nội tháng 5
-
Thời tiết hà nội 3 ngày tới
Bài viết liên quan
- Sáng kiến kinh nghiệm môn thể dục lớp 1 – bài 3 đi bằng bàn tay, cẳng chân và chui qua cổng
- Sáng kiến kinh nghiệm môn thể dục lớp 1 – bật sâu 25cm
- Sáng kiến kinh nghiệm môn thể dục lớp 1 – Đề tài: Nhảy khép tách chân vào 7 ô- tung và bắt bóng Tiết 2
- Sáng kiến kinh nghiệm môn thể dục lớp 1 – Đề tài: Nhảy khép tách chân vào 7 ô- tung và bắt bóng Tiết 1
- Sáng kiến kinh nghiệm môn thể dục lớp 1 – Đề tài: Đi dồn trước dồn ngang trên ghế thể dục Tiết 2
Bài cùng chuyên mục
- Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 - nghiên cứu khảo sát mức độ hình thành biểu tượng một số loại rau cho trẻ 5 - 6 tuổi
- Sáng kiến kinh nghiệm môn tìm hiểu môi trường lớp 1 - bài 13 chú bộ đội
- Sáng kiến kinh nghiệm môn tìm hiểu môi trường lớp 1 - bài 21 mặt trời, mặt trăng và các vì sao
- Sáng kiến kinh nghiệm môn tìm hiểu môi trường lớp 1 - bài 18 một số con vật sống trong rừng
- Sáng kiến kinh nghiệm môn tìm hiểu môi trường lớp 1 - bài 16 một số loại rau









thuc hien tuong doi tot nhung chua sat voi chuong trinh va lua tuoi hoc sinh